3 ngày nữa vợ đ.ẻ, xin làm thuê không ai mướn, nam công nhân hái lá mì ăn qua ngày

0
198

Trở về từ các tỉnh miền Nam, công nhân lao động sớm rơi vào cảnh túng thiếu khi mất công ăn việc làm, đồng tiền cạn dần. Áp lực tinh thần với “cơm áo gạo tiền” đè nặng lên đôi vai gầy yếu của công nhân lao động mùa dịch COVID-19.

3 ngày nữa vợ đẻ, xin làm thuê không ai mướn, nam công nhân hái lá mì ăn qua ngàyAnh Rơ Lan Tơm ngồi bên hiên nhà với nỗi lo lắng bất định. Ảnh T.T

Lo không có tiền đưa vợ đi sinh

Những ngày qua, anh Rơ Lan Tơm (SN 2001, trú làng Breng, xã Ia Der, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) đứng ngồi không yên trong căn nhà cấp 4 chật chội.

Bỏ học từ năm lớp 10 để vào TP.HCM mưu sinh, anh Tơm làm công nhân may tại phường Tân Thới Hiệp, Quận 12. Tuổi xuân người công nhân trôi qua trong công việc bộn bề của nhà máy.

Vợ của Tơm là người cùng làng, cùng công ty may. Khi dịch bệnh xảy ra, nhà máy đóng cửa thì đôi vợ chồng trẻ may mắn được chính quyền tỉnh Gia Lai đón về trên chuyến bay miễn phí.

Anh Rơ Lan Tơm ngồi bên hiên nhà với nỗi lo lắng bất định. Ảnh T.T

Vợ anh là chị Rcơm Ruên (SN 2003) chỉ còn vài ngày nữa là sanh nở.

“Khi về nhà, trong tài khoản hai vợ chồng em còn 10 triệu, trả chi phí ăn ở, sinh hoạt cách ly y tế hết 7 triệu, tụi em chỉ còn đúng 3 triệu.

Vài hôm nữa vợ em sinh con, không biết số tiền ít ỏi này có đủ đưa vợ vào bệnh viện TP.Pleiku hay không. Hiện dịch bệnh đang còn phức tạp khiến em càng lo lắng hơn, biết kiếm đâu ra tiền sữa, tã, áo quần cho con đầu lòng”, Rơ Lan Tơm buồn rầu nói.

Ở nhà đã hơn 3 tháng qua, Tơm hỏi khắp nơi nhưng không ai có việc gì để thuê mướn, vì địa phương cũng đang có dịch. Đồng tiền ngày càng vơi cạn dần, Tơm cứ mãi đăm chiêu trong muộn phiền và bất an về tương lai phía trước.

Thỉnh thoảng, anh lại lên nương rẫy của nhà vợ gần đó hái lá mì, nhổ khoai sắn về nấu ăn qua ngày. Ở quê gần người thân, anh em nên có khi, đôi vợ chồng trẻ được bố mẹ giúp đỡ vài lon gạo, mớ rau, con cá sống qua ngày.

“Là thanh niên sức vóc nhưng không làm được gì thay đổi hoàn cảnh, nhìn vợ mang thai cứ yếu dần vì ăn uống không đủ chất dinh dưỡng, em cảm giác lực bất tòng tâm”, Tơm nói.

Lao động giúp vơi đi nỗi lo lắng

Những ngày qua, anh Nguyễn Văn Huy (SN 1991, trú thôn 1, xã Ia Krái, huyện Ia Grai) cứ ngồi bần thần nhìn ra cánh đồng lúa. Anh Huy là lao động tự do vừa trở về từ TP.HCM hơn một tháng qua. Mất việc làm trong khi phải nuôi hai con nhỏ đang tuổi đến trường khiến người đàn ông 30 tuổi không khỏi buồn rầu.

Trước dịch bệnh, anh Huy và con gái nhỏ đang học lớp 6 thuê nhà trọ ở vùng ngoại ô huyện Bình Chánh. Anh làm đủ thứ nghề, từ lái xe ôtô chở hàng đến buôn bán và phụ hồ cho công trình xây dựng. Mỗi tháng, anh Huy kiếm được 8-10 triệu, đủ nuôi con ăn học và gửi chút ít về quê cho vợ.

Những ngày TP.HCM có dịch bệnh luôn ám ảnh tâm trí Huy. Hai cha con phải sống thấp thỏm âu lo trong phòng trọ chật hẹp suốt nhiều tuần liền, không dám tiếp xúc với ai, kể cả hàng xóm. Chiều tối, Huy chỉ ra bên ngoài mua một ít thức ăn, gạo về nấu cho hai bố con ăn đủ một tuần. Cứ thế lại đóng cửa tránh dịch trong nhà.

Huy cho biết: “Mỗi lần em thấy xóm trọ kế bên giăng dây rồi có người đưa đi cách ly thì rất lo sợ, ám ảnh cả tiếng còi hụ xe cấp cứu. Do có con nhỏ và hoàn cảnh khó khăn nên hai bố con được tỉnh Gia Lai đón về”.

Thời gian cách ly y tế, Huy luôn thường trực nỗi lo lúc trở về nhà sẽ lây mầm bệnh cho vợ con. Đêm nào anh cũng bị mất ngủ, nhiều dự định cho tương lai bị đứt gãy, Huy biết kiếm đâu ra tiền đóng học phí, tiền mua máy tính cho con nhỏ học qua mạng. Đêm nào vợ anh cũng gọi điện thoại động viên anh cố gắng.

“Mấy ngày đầu về nhà mình, mặc dù đã âm tính với COVID-19 nhưng để vợ con an toàn, em phải sinh hoạt riêng, đến nằm ngủ cũng đeo khẩu trang, dè dặt từng hơi thở. Em cứ quẩn quanh với suy nghĩ tiêu cực chuyện không may xảy đến. Việc lên mạng đọc báo nhiều tin tức tiêu cực cũng khiến em lo lắng không lối thoát”, Huy tâm sự.

Thấy trụ cột gia đình sa sút tinh thần, vợ Huy mới bàn việc nấu bánh, nấu xôi mang ra chợ bán. Chị nghĩ chỉ có lao động, hoạt động tay chân nhiều mới giúp anh vơi bớt được nỗi lo. Vậy là từ 2h rạng sáng, vợ chồng Huy lục tục dậy sớm nấu thịt làm bánh để mang ra chợ bán đến trưa mới về.

Huy cho hay, người dân nơi quê nhà đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nên đồng tiền kiếm ra khó khăn. Tuy nhiên, nhờ biết học hỏi buôn bán, được gia đình bên ngoại giúp đỡ nên mùa dịch, hai vợ chồng cũng kiếm được 100.000-150.000 đồng đắp đổi qua ngày.

Như nhiều công nhân khác, Huy mong muốn dịch bệnh ở các tỉnh miền Nam sớm được khống chế, công nhân, người lao động tự do như anh được tiêm vaccine để trở lại làm việc. Theo Huy, ở miền Nam công việc nhiều, dễ kiếm hơn so với quê nhà Gia Lai. Tính ra đồng lương hàng tháng ở thành phố lớn cao hơn so với ở quê và người lao động còn có chút tiền dành dụm để sau trang trải mọi chi phí.

Nguồn Tin: laodong

Vợ chồng ở gầm cầu thang 30 năm, khôпg ɫhể đứng tɦẳng trong “nhà”: Lệ cho giàu lẫn nghèo

Hơn 30 năm, đôi vợ chồng sống ở gầm cầu thang chung cư tại quận 10 (TP.HCM). Bình thường, họ còn có đồng ra đồng vào nhờ buôn bán nhưng từ ngày dịch bệnh bùng phát là cuộc sống càng trở nên khó khăn muôn phần.

Vợ chồng ở gầm cầu thang 30 năm, không thể đứng thẳng trong “nhà”: Lệ cho giàu lẫn nghèo (Ảnh VNE)

Từ năm 1987 đến này, vợ chồng ông Phạm Văn Liễu và bà Nguyễn Thị Huệ sống ở góc cầu thang của một chung cư tại quận 10. Được Ban quản lý chung cư cho phép, hai người đã bít một phần gầm cầu thang để lắp cửa, lót gạch bông để làm nơi tá túc. Điện nước được “câu” từ hộ dân gần đó với giá khoảng 300.000 đồng/tháng. Việc tắm rửa, đi vệ sinh của hai vợ chồng cũng “đi ké” người dân. Tuy bất tiện, thiếu thốn nhưng có một chỗ trú ngụ giữa thành phố cũng là điều đáng mừng.

“Từ năm 1983 cả nhà tôi thuê ở đây nhưng sau nghèo quá phải dọn ra gầm cầu thang ở. Hồi đấy có cha mẹ, hai anh trai cùng ở chung. Tối đến cứ mang chiếu ra ngoài ngủ. 25 năm trước khi tôi lấy chồng thì hai anh dọn ra bên ngoài ở”, người phụ nữ 53 tuổi cho biết trên VNE.

“Căn nhà” giúp hai vợ chồng tá túc ban đêm, tránh mưa gió nhưng diện tích rất nhỏ hẹp, rộng gần 5m2 và nơi cao nhất cũng chỉ 1m5 nên mọi sinh hoạt phải cẩn thận khom lưng cúi đầu để tránh bị đụng vào trần “nhà”. Khi vợ nấu ăn, ông Liễu thường ra ngoài để đỡ chật chội.

Trước khi dịch bệnh bùng phát, vợ chồng ông Liễu mưu sinh bằng công việc bán hàng rong quanh chung cư. Lúc đầu, hai người bán khoai lang, sắn luộc rồi bánh canh, súp cua túc tắc sống qua ngày. Tuy nhiên, khi thành phố thực hiện giãn cách xã hội thì họ buộc phải ở nhà để phòng, chống dịch bệnh. Chiếc xe đẩy phải cất vào một góc, chưa biết ngày nào có thể cùng hai vợ chồng rong ruổi mưu sinh trở lại.

“Mấy bữa nay không có thu nhập, bà con quanh đây cùng chính quyền cũng góp cho rau củ, gạo, dầu ăn… nên cuộc sống vẫn tạm ổn”, người đàn ông 56 tuổi chia sẻ.

(Ảnh VNE)

Vợ chồng ông Liễu cũng như biết bao gia đình khác đang bám trụ ở thành phố để mưu sinh đã chấp nhận sống trong cảnh thiếu thốn, chật chội. Nhưng mấy chục năm ròng, họ vẫn chọn ở lại, thậm chí còn trân trọng vì có chỗ qua đêm tử tế, không phải lang thang và có thể tiết kiệm được tiền. Câu chuyện mưu sinh ngày thường đã khó, đến lúc dịch bệnh lại càng nan giải và dễ khiến nhiều người nhói lòng.

Thời gian gần đây, nhiều người lao động đã chọn rời thành phố để về quê. Tuy nhiên, về nhà nhưng họ cũng bị bủa vây bởi cái ăn, cái mặc. Công việc ở quê cũng bấp bênh, chưa kể các tỉnh thành phía Nam đang giãn cách xã hội để chống dịch. Nhiều người từng gạt nước mắt rời phố về quê, bây giờ cũng thở dài không biết sáng mai thức dậy có còn bao nhiêu tiền trong người.

Còn những người ở lại phố, họ cũng đâu khá khẩm hơn vì vừa phải bảo vệ bản thân khỏi dịch bệnh, vừa đau đáu ăn bữa nay rồi bữa mai trong nhà còn gì không. Như vợ chồng ông Liễu, bình thường họ buôn bán, chỉ tối đến với về ngủ trong “căn nhà” rộng 5m2, cao 1m50. Nhưng thời gian này, hai vợ chồng chen nhau trong không gian chật hẹp ấy.

Thành phố, nơi nhiều người hay chua chát bảo nhau là “hoa cho người giàu và lệ cho người nghèo”. Nhưng lúc này, cả giàu hay nghèo gì cũng có những giọt “lệ” rơi ra vì mất mát công việc, tài chính, sức khỏe và thậm chí là tính mạng. Có lẽ, nhiều người cũng mong mỏi như vợ chồng ông Liễu, rằng sẽ có một ngày được đẩy chiếc xe đang nằm im một góc đi bán trở lại, được thấy mọi người xung quanh “hồi phục” sau một “trận bệnh” cam go.

Nguồn Tin: webtretho

ᴄảᴍ độɴɢ: ᴄʜàɴɢ ᴛʀᴀɪ ᴛʜíᴄʜ ᴛự ᴛᴀʏ ᴛʀᴀɴɢ đɪểᴍ, ᴄʜọɴ ǫᴜầɴ áᴏ ᴄʜᴏ ᴠợ đɪ ᴄʜơɪ, ɢáɴʜ ᴠáᴄ ᴛấᴛ ᴄả ᴄʜᴏ ɢɪᴀ đìɴʜ ɴʜỏ

Mỗi sáng, khi cái chợ cóc đầu ngõ 396 Trương Định trở nên huyên náo bởi tiếng còi xe và người bán hàng, anh Phạm Văn Tuyến bắt đầu đánh phấn, tô son cho vợ.

Chàng trai thích tô son cho vợVợ chồng chị Dung và anh Tuyến. Ảnh: Phan Dương.

“Chú ấy toàn trang điểm cho vợ thôi”, “Quần áo của vợ là chú ấy chọn hết cả đấy”, “Người đẹp trai lại nhẹ nhàng và chăm vợ lắm”… Lời của chị bán thịt, cô bán cá, bà bán rau tiếp nối nhau. Ở chợ này, các bà, các cô không ai giấu được sự ngưỡng mộ với tình yêu của anh Tuyến dành cho người vợ khiếm thị là chị Lê Kim Dung.

Đôi vợ chồng này là chủ một trung tâm tẩm quất người mù ở số 2, ngõ 396. Hàng ngày chị Dung đảm nhận việc chuyên môn, anh Tuyến đón khách, chăm sóc vợ, các nhân viên cũng là người khiếm thị và đưa đón hai con đến trường.

“Tôi gặp anh ấy cách đây 19 năm, khi mắt vẫn còn có thể thấy được chút ít. Đấy là sự may mắn vì đến giờ vẫn có thể mường tượng ra khuôn mặt anh Tuyến. Đôi mắt anh lúc nào cũng chứa nước long lanh và nụ cười mỉm hiền lành”, chị Dung kể.

Thuở ấy, mỗi cuối tuần Kim Dung hay vào doanh trại quân đội ở Phúc Thọ thăm người anh con bác, qua đó quen anh Phạm Văn Tuyến, người huyện Thanh Oai ở cùng đơn vị. Những câu chuyện giữa hai người đã giúp anh Tuyến biết hoàn cảnh của Dung. Biến chứng của trận sởi năm 2 tuổi làm hỏng đôi mắt cô bé. Sau này, dù được thay giác mạc, song thị lực chỉ còn 4/10. Đến năm 17 tuổi, mắt cô mờ dần.

Hết thời gian nghĩa vụ, anh Tuyến đi xuất khẩu lao động. Còn Dung vào trường Nguyễn Đình Chiểu học chữ nổi. Chị hoàn thành chương trình THPT, song song học nghề xoa bóp bấm huyệt. Những cánh thư tay Tuyến gửi về là ánh sáng đẹp nhất trong những năm trưởng thành khó khăn của Dung.

Dù vậy, khi anh tỏ tình, chị không nhận lời vì cho rằng tình yêu của anh chàng đẹp trai, mắt sáng với một cô gái mù sẽ không bền. Đến lần tỏ tình thứ ba chị vẫn không dám đồng ý. Ở phương xa, anh Tuyến chẳng còn cách nào khác là nói chuyện nhiều, thuyết phục nhiều. “Em có quyền yêu và đón nhận tình yêu như mọi người. Anh hứa sẽ làm đôi mắt, đôi tay, đôi chân cho em suốt đời”, anh Tuyến viết trong thư.

“Mãi đến cuối năm 2002 tôi mới nhận lời yêu của anh ấy. Đó là khi cầm trên tay 500 nghìn đồng tiền lương tháng đầu tiên, tôi biết mình có thể tự kiếm được tiền và không phải phụ thuộc vào người khác”, chị Dung nói.

Chị Dung theo nghề xoa bóp, bấm huyệt và mong muốn có thể mở rộng cơ sở của mình, để dạy nghề miễn phí cho nhiều người khác. Ảnh: Phan Dương.

Họ yêu xa trong vài năm. Năm 2005, trước khi về nước, anh Tuyến chia sẻ với bố về cô gái mình yêu. Ông Phạm Trọng Nhã đồng ý lên nhà gái gặp mặt. Thấy bạn gái của con hiền lành, nghị lực nên đồng ý tính chuyện cưới hỏi. Tuy nhiên, 4 anh chị em của Tuyến và họ hàng không một ai đồng ý bởi lo anh sẽ “khổ cả đời” hay bệnh của Dung sẽ di truyền sang con cái.

Đã lường trước việc bị phản đối nên chị Dung không buồn hay oán trách và bắt đầu âm thầm rời xa người yêu. Còn anh Tuyến lúc này vừa đi xuất khẩu lao động về, phải loay hoay học nghề tìm đường lập nghiệp. Bản thân anh thấy mình cũng không có khả năng lo được cho người con gái mình yêu nên chấp nhận buông tay. “Những ngày không còn được quan tâm cô ấy, cuộc sống của tôi chẳng có chút gì vui vẻ”, anh bộc bạch.

Một năm sau, đôi trẻ nhận ra họ không thể sống thiếu nhau nên quyết định “yêu lại từ đầu”. Lúc này bất chấp phản đối của gia đình, anh Tuyến kiên quyết cưới. Bữa cơm tất niên 2007, cả họ tập trung về nhà anh, cô dì, chú bác xúm vào thuyết phục anh suy nghĩ lại. Nhưng không ai cản nổi, anh Tuyến vẫn kiên định báo kế hoạch: Ra Giêng sẽ cưới vợ.

Ngày trọng đại, ông Nhã dặn dò hai con: “Các con đã quyết đến với nhau thì sau này khó khăn thế nào cũng không được bỏ cuộc”.

Sau hôn lễ, đôi vợ chồng khăn gói xuống Hà Nội thuê nhà, bắt đầu xây dựng cuộc sống từ hai bàn tay trắng. Chị Dung mang bầu không thể tiếp tục công việc bấm huyệt tốn nhiều sức lực. Mình anh Tuyến cáng đáng kinh tế gia đình, nhiều ngày chạy xe đến 2-3h sáng mới về.

Cuộc sống của họ không dư dả nhưng chưa lúc nào thiếu niềm vui. Chẳng có ngày lễ nào anh Tuyến quên mua hoa, mua quà, chúc mừng vợ. Thương vợ không được đi đây đó nên cứ lúc nào rảnh anh lại đèo vợ con đi ăn sáng, uống cà phê. Mỗi lúc ra ngoài, anh sẽ lựa quần áo, đánh phấn và tô son thật đẹp cho vợ. “Hồi đầu tôi hay ra quán cắt tóc gội đầu nhờ họ trang điểm. Sau vài lần nhìn quen, tự anh ấy bảo để anh ấy làm cho”, chị Dung chia sẻ.

Năm 2011, chị Dung sinh một bé nữa. Người thân hai bên đều bận rộn không thể phụ giúp, anh Tuyến đành nghỉ việc ở nhà chăm vợ con. Nghĩ đến cảnh các con sắp phải đến trường cần người đưa đón, vợ cũng cần chăm nom, anh Tuyến động viên chị mở một trung tâm xoa bóp bấm huyệt tại nhà.

Giai đoạn đầu mỗi ngày trung tâm chỉ có vài khách, đến nay đã có trung bình 30 khách. Nhờ đó, chị Dung tạo thêm được công ăn việc làm cho 4 người khiếm thị khác. Mấy năm nay chị ấp ủ ý tưởng mở rộng cơ sở để đào tạo miễn phí và tạo thêm việc làm cho những người cùng cảnh ngộ, nhưng vốn hai vợ chồng có hạn nên chưa thể làm.

Anh Nông Văn Quốc, 38 tuổi, nhân viên trong trung tâm của vợ chồng chị Dung cho biết mới đến đây làm. “Tôi thấy anh Tuyến chăm chị Dung từng ly từng tí. Mỗi lần chị ấy làm xong cho khách là anh hỏi có mệt không, có cần uống nước gì không để anh ấy đi mua”, anh Quốc kể.

Vợ chồng chị Dung và hai con. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Tuy không nhìn thấy, chị Dung vẫn có thể làm được nhiều việc như người sáng mắt, với điều kiện ở không gian quen. Con trên 6 tháng tuổi, chị đã có thể tắm rửa, đút bột cho con.

Hàng ngày anh Tuyến sẽ nấu ăn cho cả nhà. Song những hôm anh đi vắng, chị vẫn tự nấu được mâm tươm tất gồm hai món mặn, một món rau. Dung khoe, mọi món chị đều nấu được, trừ những món rán sẽ không căn chuẩn được độ vàng. Chồng hay khen món tôm rang thịt và làm sườn xào chua ngọt của chị. Anh Tuyến kể, tối Chủ Nhật vừa rồi con gái nói muốn ăn mỳ bò. 5h30’ chị đã dậy, bước xuống 3 tầng cầu thang dốc và hẹp, ra đầu ngõ mua 2 lạng thịt bò rồi về thái mỏng, nấu nướng gọn gàng như bà nội trợ bình thường. 6h30’, khi chồng và hai con dậy, bốn bát mỳ bò đã bày sẵn ở bàn.

“Không nhìn thấy nhưng cô ấy như có một giác quan khác, vẫn nấu nướng, giặt giũ, chăm con như người bình thường. Nhiều lúc cô ấy đi cầu thang nhanh đến nỗi tôi đuổi không kịp”, anh Tuyến cười nói.

Hai con Tuấn Kiệt, 12 tuổi và Trà My 9 tuổi học được cách đối xử dịu dàng, tình cảm của bố dành cho mẹ. Mỗi lần bố có việc về quê, hai đứa phân công nhau lau dọn nhà, rửa bát đũa chứ không cho mẹ làm. Chúng cũng quan tâm chăm sóc các cô chú như cách bố vẫn làm. “Dù tôi hoàn toàn làm được việc nhà, các con cũng ít khi để mẹ phải đụng tay”, chị Dung cho hay.

Nguồn Tin: daidoanket