Nghệ sĩ Quốc Nhĩ: “Tiếng trống Mê Linh” còn vọng mãi

0
147

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ hỏi người viết:“Con có xem vở “Sân khấu về khuya” không? Đó chính là nỗi lòng thấu tâm can người nghệ sĩ khi phải rời xa sân khấu, phải chấp nhận thực tế rằng cải lương đã không còn được như thời vàng son nữa”.

Sân khấu về khuya – vở tuồng kinh điển của cố soạn giả Năm Châu – từng làm mê đắm lòng khán giả trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga từ những năm thập niên 1960. Cũng từ đoàn hát này, nghệ sĩ Quốc Nhĩ có quãng thời gian gắn bó với sân khấu đẹp đẽ nhất của cuộc đời…

Một người hiền của sân khấu

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ sinh năm 1947, tại Vĩnh Long. Tên tuổi ông không phải là quá tỏa sáng so với những nghệ sĩ cùng thời, nhưng suốt quãng đời gắn bó với sân khấu cải lương, ông đã tham gia hoạt động ở các đoàn hát danh tiếng: đoàn Thống Nhất – Út Trà Ôn, Thanh Minh – Thanh Nga, Nhà hát ca kịch cải lương Trần Hữu Trang… Trong ký ức của người nghệ sĩ già còn có cả những vở cải lương đặc sắc của hơn nửa thế kỷ trước, mà đến giờ nguồn kịch bản đã không còn lưu giữ được: Đầu xanh vương cổ hận, Gió hú đồi ma, Hoa tình trong gió lốc… (của soạn giả Tứ Lang, diễn trên sân khấu đoàn Hương Hoa vào những năm cuối thập niên 1950).

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ thuở còn trẻ, với tạo hình vai Chế Bàn trong vở Những vì sao không tênNghệ sĩ Quốc Nhĩ thuở còn trẻ, với tạo hình vai Chế Bàn trong vở Những vì sao không tên

Năm ấy, Quốc Nhĩ còn là cậu trò nhỏ, ngày một buổi đến trường, một buổi ra đồng, khi làm ruộng, lúc giữ trâu cắt cỏ. Thôn xóm nghèo nhưng người dân quê rất yêu đờn ca tài tử, những chiều hôm rảnh rỗi lại ngồi quây quần hát ca.

Trong gia đình Quốc Nhĩ có người anh trai là nghệ sĩ cải lương Hoàng Sương, đi theo đoàn Hương Hoa (cùng với các nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa, Kim Hà, Nam Hùng, Văn Đặng…). Nhưng đến lượt mình, Quốc Nhĩ lại có duyên theo đoàn Thống Nhất – Út Trà Ôn, khi đó là đoàn “đại bang”, danh tiếng lẫy lừng. Nghệ sĩ Quốc Nhĩ nói, ông tự biết mình không được đào tạo bài bản, nên suốt thời gian dài chủ yếu là làm những công việc phụ giúp đoàn, hoặc tham gia múa làm nền cho các nhân vật chính. Nhiều người nói Quốc Nhĩ là một người hiền của sân khấu, chuyện vất vả nào cũng không từ nan nên luôn được đồng nghiệp thương mến.

“Đêm đêm ngồi ở cánh gà nhắc tuồng, tôi vẫn thường được xem các nghệ sĩ Tám Dân, Việt Hùng, Hùng Minh, Thanh Sang, Hoàng Giang… diễn trên sân khấu. Họ đều là những người thầy âm thầm cho tôi học hỏi kỹ năng diễn xuất và cả lòng yêu nghề”, mấy mươi năm sau, khi nhắc lại thế hệ đi trước, nghệ sĩ Quốc Nhĩ vẫn không quên ai, nhớ từng vai diễn và cả tính cách của đàn anh, đàn chị.

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ vai cụ Đô Trinh trong vở Tiếng trống Mê Linh diễn vào dịp kỷ niệm 64 năm đoàn Thanh Minh - Thanh Nga, bên cạnh là NSƯT Thanh NguyệtNghệ sĩ Quốc Nhĩ vai cụ Đô Trinh trong vở Tiếng trống Mê Linh diễn vào dịp kỷ niệm 64 năm đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, bên cạnh là NSƯT Thanh Nguyệt

Cũng nhờ đảm nhận vai trò của người nhắc tuồng mà Quốc Nhĩ thuộc lòng rất nhiều trích đoạn, cả vai chính/thứ. Chàng trai trẻ cứu một “bàn thua trông thấy” cho đoàn Thống Nhất – Út Trà Ôn trong lần lưu diễn ở Ninh Hòa (Nha Trang) vào cuối năm 1963. “Đêm đó diễn vở Tần Thủy Hoàng, nhưng nghệ sĩ Minh Châu lại bất ngờ nghỉ bệnh.

Nghệ sĩ Chân Tâm trước đó đóng vai Lã Bất Vi được đôn lên vai chính. Nghệ sĩ Út Trà Ôn hỏi tôi: “Vai Lã Bất Vi, Nhĩ diễn được không?”. Tôi nói được, nhưng trong lòng lo lắng vô cùng. Nhân vật Lã Bất Vi chỉ diễn một lớp, nhưng đó lại là một phân cảnh dài và khá quan trọng. Nghệ sĩ Chân Tâm giúp tôi hóa trang râu dài, tóc dài, bước ra sân khấu ca diễn mà lo. May mắn thuộc lời, tôi chỉ thấy mình hát tròn vai chứ không phải là hay. Nhưng sau lần thế vai đó, tôi được lên lương từ 10 đồng lên 20 đồng”, nghệ sĩ Quốc Nhĩ nhớ lại. Ngày theo đoàn hát, ông đâu ngờ vai diễn đầu tiên của mình lại là một “lão già”, trong khi bản thân chỉ mới là chàng trai tuổi 16.

Trong những bức ảnh kỷ niệm còn lưu lại, Quốc Nhĩ năm xưa có sắc vóc của một kép chính, nhưng sự nghiệp của ông lận đận khi các đoàn hát ông tham gia đều không trụ được lâu. Vì thiếu nhân sự, kinh phí eo hẹp, vì cả thời cuộc. Sau khi đoàn Thống Nhất – Út Trà Ôn tan rã, Quốc Nhĩ chuyển sang đoàn Hương Mùa Thu, ký hợp đồng 12 tháng, được lãnh trước 10.000 đồng tiền lương. Nhưng suốt thời gian ấy, ông chủ yếu diễn vũ đạo.

Rồi cơ duyên gặp soạn giả Nhị Kiều, và được giới thiệu cho bà bầu Thơ của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, Quốc Nhĩ đã gắn bó với đoàn từ năm 1965-1968. Suốt thời gian đó, ông được bước lên sân khấu ca diễn, dù chưa được đảm nhận vai chính, nhưng đã có nhiều hơn cơ hội cho mình. Cuối năm 1968, khi đoàn đang diễn vở Mạnh Lệ Quân ở Đà Nẵng (Quốc Nhĩ vai Mạnh Gia Linh, anh trai của Mạnh Lệ Quân – nhân vật của nghệ sĩ Thanh Nga), thì bàn thờ Tổ cháy. Anh em sau đó về nghỉ tết, hẹn nhau sẽ tái ngộ khai màn suất diễn đầu năm vào đêm mùng một. Không ai ngờ đó là chuyến lưu diễn sau cùng – cho đến ngày hòa bình lập lại.

Vai Đông Bảng và bước ngoặt nhân duyên

Những năm sau này, khi nhắc đến nghệ sĩ Quốc Nhĩ, người trong giới lẫn khán giả mộ điệu thường nhớ ông qua vai Đông Bảng trong vở Tiếng trống Mê Linh. Vai diễn là dấu mốc với nghề, cũng là cơ duyên trời định, khi từ vở diễn này mà ông gặp và se duyên với NSƯT Thanh Nguyệt. Thời điểm ấy, Thanh Nguyệt là cái tên sáng giá.

Trước Tiếng trống Mê Linh, Quốc Nhĩ đã tham gia nhiều vai phụ trong các vở Trúng số độc đắc, Tiếng nhạn kêu sương, Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga, Trọng Thủy Mị Châu… Nhưng Đông Bảng, một lần nữa lại là “trường hợp thế vai” của Quốc Nhĩ, lại là thử thách khó, khi không phải diễn trên sân khấu, mà thế vai để thu video.

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ và NSƯT Thanh Nguyệt trong vở Tiếng chuông Thiên MụNghệ sĩ Quốc Nhĩ và NSƯT Thanh Nguyệt trong vở Tiếng chuông Thiên Mụ

“Sáng mai thu hình thì buổi tối nghệ sĩ Hoàng Long đảm nhận vai Đông Bảng nghỉ bệnh. Vai này khó ở chỗ không chỉ ca diễn mà còn phải đánh võ múa kiếm, đâu thể nói cứ thuộc tuồng là diễn được. Tôi nhờ anh Nam Hùng tập dợt cùng trước buổi diễn, căng thẳng lắm, nhưng rồi cũng thành công. Từ đó, ngày nào tôi cũng tập luyện cho đến khi chính thức diễn trên sân khấu. Mọi thao tác phải thuần thục, không được phép sai. Nếu không, làm sao thể hiện được trọn vẹn tinh thần của nhân vật” – nghệ sĩ Quốc Nhĩ tâm sự. Vai diễn này, có đêm trong số khán giả ngồi bên dưới xem ông diễn là cô đào Thanh Nguyệt…

Và hôm nay, khi ông ngồi kể lại chuyện xưa, bên cạnh vẫn chính là người “khán giả đặc biệt” năm ấy. Thi thoảng NSƯT Thanh Nguyệt nhắc cho ông nhớ về ngày tháng hoặc địa điểm mà ông bất chợt quên. Bà nhớ cả tên con đường Ngô Nhân Tịnh (gần Chợ Lớn) – nơi mà ông từng có vài tháng làm việc… ở phòng nha.

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ nói, khi đoàn Thanh Minh – Thanh Nga tan rã sau mùa xuân năm 1968, ông từng có ý định giải nghệ, đi học nha khoa. Thu nhập từ công việc làm răng hằng tháng tính ra là hơn rất nhiều so với đi hát. Nhưng rồi cũng chỉ được vài tháng thì nhớ nghề. Sau năm 1975, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga tái hợp, nghệ sĩ Quốc Nhĩ chính là người tìm cách liên lạc với các thành viên cũ. Nhưng biến cố của đêm 26/11/1978 đã mãi mãi lấy đi của sân khấu một nữ nghệ sĩ tài sắc vẹn toàn.

Nghệ sĩ Quốc Nhĩ nói ông không bao giờ quên ân tình mà cố nghệ sĩ Thanh Nga đã dành cho. “Gắn bó nhiều năm với đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, tôi học được bài học quý giá mà nghệ sĩ Thanh Nga vẫn thường chỉ dạy. Trước mỗi vai diễn mới, chị đều dành thời gian tập luyện rất nhiều. Chị coi tôi như em trai, thường dạy tôi mỗi khi tập luyện, phải nhìn vào gương ca diễn sao cho cơ mặt không bị nhăn, tập cả cách chau mày…”, nghệ sĩ Quốc Nhĩ bùi ngùi.

Đời người như một giấc mộng dài, nhưng rất nhiều điều là không thể lãng quên trong nỗi nhớ của một người nghệ sĩ già. Quốc Nhĩ năm nay 74 tuổi. Ông vẫn nhớ thời điểm mình rời sân khấu là năm 1992. Vẫn nhớ hoài vai diễn người gác cổng của nghệ sĩ Tám Dân trong vở Sân khấu về khuya. Đó là nỗi buồn chua xót của một người nghệ sĩ đã đến tuổi hoàng hôn với nghề. Sân khấu những năm tháng sau này đã không còn được như trước nữa, nhưng trong sâu thẳm tâm tư của người nghệ sĩ, là một nỗi nhớ mãi mãi, về một thời hoàng kim.

NSND Thu Hiền: Tiếng hát đi qua đạn bom

Những sân khấu không thể nào quên

Mười tuổi, cô bé Thu Hiền đã rời quê hương Thái Bình gia nhập đoàn văn công, trước để học nghệ thuật, sau là chi viện cho miền Trung, miền Nam đánh giặc. Chiến trường gian lao, khắc nghiệt, nhưng với NSND Thu Hiền và thế hệ của bà, đó là lựa chọn không thể khác hơn, bởi hòa bình của đất nước, tự do của dân tộc là trên hết. “Chúng tôi đi hoàn toàn tự nguyện. Đó là lý tưởng của một thế hệ”, bà nói.

Khi cùng đoàn Văn công Giải Phóng lên đường vào miền Trung, trên đường hành quân, sự tàn khốc của đạn bom chiến tranh khiến cô bé tuổi trăng rằm bật khóc. Chỉ huy hỏi: “Có phải đồng chí lung lay?”, cô gái nhỏ lau vội nước mắt, đáp: “Không, em chỉ nhớ nhà thôi”, và tiếp tục lên đường.

Khái niệm nghệ sĩ là điều gì đó rất xa lạ với Thu Hiền khi đó. Ngoài ca hát, bà và đồng đội còn gặt lúa, cứu thương, tải gạo, chữa cháy… Trong khói lửa đạn bom, NSND Thu Hiền đã hát ở những sân khấu có một không hai trong cuộc đời, có lúc ngỡ như đêm nay là đêm hát cuối cùng. Những đêm giữa rừng, tiếng hát vang lên trong không gian được thắp sáng bởi đèn pha của xe bộ đội, mỗi khi nghe tiếng máy bay phải tắt vội, tìm nơi ẩn náu. Có hôm, sân khấu là những đoạn đường hầm chật hẹp với ánh sáng leo lét từ chiếc đèn măng-sông chỉ đủ tỏ mặt người. Micro tự chế bằng lon sữa, hộp thịt hộp khoét hai đầu, cho ống tre vào giữa để làm tăng độ vang của âm thanh. Những buổi biểu diễn dẫu gian nan nhưng lại là những giây phút yên bình hiếm hoi trên chiến trường.

Ngày đó, không có hoặc thiếu, hết thuốc mê nên các bác sĩ phải mổ, khâu vết thương sống cho bộ đội. Những cơn đau càng kinh hoàng. Tiếng hát, âm nhạc lại trở thành liều thuốc giảm đau tinh thần. Bà nắm chặt tay từng thương binh, lay họ tỉnh lại bằng những bài hát của mình, từ bài này qua bài khác, hát sang cả chèo mà không biết mệt. Có người may mắn sống sót, nhưng có người đã mãi mãi nằm lại. Lằn ranh giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. “Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi thấy có chút sợ, nhưng ngày đó thì không.

Ca khúc Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây- NSND Thu Hiền, NSND Trung Đức

Có lẽ, niềm hy vọng dồn hết vào mỗi câu hát nên tôi không suy nghĩ nhiều nữa”, bà nói. Cứ như thế, tiếng hát Thu Hiền trải dài từ Nghệ An đến Hà Tĩnh, sang Quảng Bình, rồi vượt sông Bến Hải để đi sâu vào lòng Quảng Trị, nơi những cuộc chiến diễn ra khốc liệt. Chiến tranh tàn phá mọi thứ, nhưng không thể dập tắt niềm hy vọng trong giọng hát của cô gái đương độ trăng tròn.

Một lần, bà và đoàn văn công hát ở Cửa Việt, phải rón rén di chuyển từng bước một theo con đường được vạch sẵn, sơ sẩy sẽ mất mạng vì bom mìn được cài cắm khắp nơi. Đêm đó, bà vỡ òa khi gặp lại anh Thích, một người quen thuở còn học tập ở Hưng Yên trước khi vào chiến trường. Lòng người thiếu nữ càng xốn xang khi anh bộ đội thổ lộ: “Ngày ấy, ta cũng thích mi dữ lắm”. Giữa chiến trường khắc nghiệt, chỉ bấy nhiêu cũng đủ để tâm hồn được xoa dịu.

“Tôi đứng hát, anh ới theo, tôi cũng dí dỏm đáp lại. Người hát và người xem không có khoảng cách nào cả. Hôm sau, tôi hỏi thăm tin anh, người ta bảo đoàn bộ đội hôm qua chết cả rồi. Tôi không tin. Mãi khi được ra Bắc trở lại, tôi tìm về nhà anh, thấy di ảnh được đặt gọn trên góc tủ, mới biết đó là sự thật. Trong chiến tranh, những lời biệt ly có thể đến bất kỳ lúc nào”, bà tâm sự. Đây là một trong những kỷ niệm khiến bà mãi về sau này vẫn luôn khắc khoải khi hát Ở hai đầu nỗi nhớ của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu. Đó không chỉ là tình cảm nam nữ, mà lớn hơn cả là tình đồng đội, tình người, tình dân tộc gắn liền với vận mệnh đất nước.

Năm 1972 khi vào giải phóng Đông Hà, Quảng Trị, từ bờ bắc sông Thạch Hãn, bà phải cầm loa hát sang bên kia sông để động viên tinh thần dân và quân vượt tuyến. Chiếc loa phải bóp mới vang tiếng, cứ mải bóp thì quên hát, còn mải hát thì quên bóp. Buổi diễn xen lẫn tiếng đạn bom. Cứ mỗi lần nghe bom rơi trên đầu, cả đoàn lại phải ụp xuống sông, khi ngoi lên, mặt mũi, miệng dính đầy bùn cát, phấn son nhem nhuốc. Chẳng ai màng chuyện đẹp xấu, chỉ cần được cất cao tiếng hát giữa chiến trường. “Thời đó, chúng tôi hát bằng cả trái tim mình, hát thay cho tâm tình những người rời quê hương đi chiến đấu, những người ở hậu phương… Tôi không chắc mình hát hay, nhưng ôm trọn vào mỗi bài hát rất nhiều tình cảm”, nữ nghệ sĩ bộc bạch.

Luôn phải quay về với tiếng mẹ ru 

Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh giúp NSND Thu Hiền từ một cô văn công nhỏ bé Thanh Hồng (tên đi bộ đội của bà) trở nên nổi tiếng. Ban đầu, bài hát được giao cho một nghệ sĩ khác. Được người quen giới thiệu, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đồng ý cho bà thử giọng, đích thân ông ngồi kiểm tra. Nghe xong, ông gật gù hài lòng. Thu xong cho Đài phát thanh Giải phóng, đến Đài tiếng nói nhân dân Việt Nam, bà lại lên đường vào miền Trung.

Năm 1975, trên cầu Tràng Tiền, một người bộ đội nhận ra bà và dành cho bà rất nhiều lời khen ngợi. Bà ngỡ ngàng không hiểu người đối diện đang nói gì về mình, cho đến khi anh bộ đội nhắc tên ca khúc bà thể hiện. “Tôi không biết nổi tiếng là gì. Có lẽ, những ngày tháng chiến tranh ác liệt, những sân khấu độc nhất vô nhị đã giúp tôi luôn đứng gần với khán giả của mình, và sống một cuộc đời bình dị”, bà nói.

Vốn xuất thân trong gia đình có truyền thống hát chèo, tuồng nhưng con đường âm nhạc của NSND Thu Hiền lại rẽ theo hướng khác: âm nhạc mang màu sắc dân gian. Vốn liếng bài hát của bà trải rộng khắp ba miền đất nước: Hoa cau vườn trầu, Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Người con gái sông La, Quảng Bình quê ta ơi, Câu hò bên bờ Hiền Lương, Dáng dứng Bến Tre…

Vì không biết ranh giới địa lý giữa các địa phương, nên tiếng nói, văn hóa trở thành đặc điểm phân chia rõ nhất trong tâm tưởng của bà. Chẳng hạn, người Nghệ An, Hà Tĩnh thì ăn nói thẳng thắn, giọng mộc mạc. Người Huế không bao giờ vội, kỹ lưỡng, ăn nói sâu sắc, nhẹ nhàng. Người miền Nam lại phóng khoáng, mộc mạc, thường có một từ phát âm không chuẩn. Từ lưu giữ, bà biến chúng thành vốn liếng của riêng mình, chọn lọc đưa vào từng ca khúc phù hợp. Có lẽ vì thế, qua hàng loạt nhạc phẩm của nữ nghệ sĩ, khán giả ai cũng thấy một phần quê hương trong đó. Với riêng bà, hát nhạc mang âm hưởng ba miền, cũng là cách bà thể hiện tình yêu quê hương, trân trọng, bảo tồn những gì cha ông còn để lại.

“Tôi thích hát cho miền nào, địa phương nào phải ra chất địa phương đó, không lẫn lộn. Có thể tôi hát tiếng miền Nam không tốt, nhưng hát bằng cả trái tim. Ban đầu, có thể là sự tiếp thu một cách tự nhiên, nhưng để thuần thục, chuyên nghiệp thì phải học hỏi, trau dồi không ngừng. Tôi không được đào tạo trường lớp chính quy, nhưng có cơ hội thực hành nhiều. Đó cũng là một cách học”, bà nói.

Bà không ngại học, kể cả từ người nhỏ tuổi hơn mình. Bởi bà luôn nghĩ người trẻ bây giờ có nhiều điều thú vị, hay ho, đáng để học hỏi. Học để bản thân không bao giờ đi lùi, không bao giờ cũ. Bà luôn thấy mình may mắn khi hiện tại, vẫn được khán giả biết đến và yêu thương. Cũng vì thế, nữ nghệ sĩ luôn nguyện được hát đến cuối đời để phục vụ khán giả, không quá bận tâm chuyện cát-sê, thu nhập.

Truyền nghề cho thế hệ trẻ là điều bà vẫn miệt mài nhiều năm qua, bởi bà quan niệm: “Có 4.0, 5.0 thì chúng ta luôn phải quay về với tiếng mẹ ru. Đó là nguồn cội, xuất phát điểm đầu tiên của con người. Vì thế, tôi chỉ mong bạn trẻ nào có khả năng hãy cứ yêu hết mình. Xuất phát từ tình yêu, làm nghề nghiêm túc, thì nghề cũng sẽ yêu mình”.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/nsnd-thu-hien-tieng-hat-di-qua-dan-bom-a1446869.html