NSND Thanh Ngân kɦóc nghẹn, gắng gượng với cải lương vì “nghệ sĩ nhiềᴜ mà người nghe ngày càng ít”

0
237

Cô cho biết bản thân thực sự rất yêu bộ môn nghệ thuật này, đây là văn hoá, truyền thống bao đời của Việt Nam.

Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngân trong một chương trình phát sóng đã tâm sự về hành trình sự nghiệp của mình đang theo đuổi. Tự nhận bản thân rất yêu cải lương, Thanh Ngân không kiềm được xúc động mà khóc nghẹn: “Sân khấu cải lương đang mất dần, trong khi người kế thừa nghệ thuật này vẫn còn. Các thế hệ đàn em sau tôi vẫn cố gắng nhưng khán giả kế thừa thì không còn muốn lắng nghe nữa rồi”. Nữ nghệ sĩ cho biết trước đây, mỗi khi sân khấu sáng đèn đều đông khán giả đến xem và trân trọng người nghệ sĩ. Càng về sau, người mộ điệu không còn quan tâm đến bộ môn này.

Với khả năng cải lương thiên phú, nữ nghệ sĩ đã xin phép cha mẹ cho lên Sài Gòn học thanh nhạc từ năm 10 tuổi. Sớm bộc lộ được giọng hát thanh thoát của mình, năm mới 18, NSND Thanh Ngân đã được bố mẹ định hướng và khuyến khích theo hát cải lương. Những năm tháng gia đình khó khăn khiến cho việc học dang dở, cô lăn lóc theo các đoàn hát từ khắp các tỉnh Bắc – Nam. Nữ nghệ sĩ còn “bỏ túi” thêm cho mình khả năng hát tân nhạc. Cô thường biểu diễn cho khán giả nghe trước khi diễn cải lương tuồng cổ.

Đến hiện tại, NSND Thanh Ngân vẫn đi hát và biểu diễn ở các sự kiện văn hoá và sân khấu quốc gia. Cô đam mê bộ môn truyền thống dân tộc này nên chạnh lòng khi không nỡ nhìn thấy các sân khấu cải lương trở nên đìu hiu, quạnh quẽ cũng là điều dễ hiểu.

Thanh Ngân là con gái út của nghệ sĩ Hoài Châu – Kim Hoa, thuộc thế hệ thứ tư trong gia đình có bốn đời theo nghề hát từ thập niên 1930 cho đến nay. Khi gia nhập nhà hát Trần Hữu Trang (TP HCM), cô đã là một nghệ sĩ khá vững tay nghề, giọng ca điêu luyện, ngọt ngào. Cô từng đoạt giải Mai Vàng năm 2000 hạng mục “Nữ diễn viên cải lương xuất sắc”. Năm 2005, cô giành huy chương vàng trong Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc với vở Cung đàn nào cho em. Năm 2006, Thanh Ngân được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.

NSƯT Hữu Quốc: Lý do giới trẻ thời nay không theo cải lương là vì khán gιả

Tâm sự mới đây của NSƯT Hữu Quốc đã nói lên nỗi lòng của nhiều bạn trẻ đam mê và mong muốn đi theo con đường cổ nhạc, cải lương và gìn giữ, nối tiếp môn nghệ thuật truyền thống này của đất nước.

NSƯT Hữu Quốc: Lý do giới trẻ thời nay không theo cải lương là vì khán giả

Cụ thể, NS Hữu Quốc chia sẻ về thị hiếu nghe nhạc đương thời của giới trẻ: “Do cuộc sống tác động khiến các bạn mải mê chạy theo những thứ thời thượng, trong đó có trào lưu văn hóa nghệ thuật. Các bạn cho rằng những thể loại nhạc hiện đại khi ra đám đông thể hiện sẽ được vỗ tay. Nhưng có những bạn hát cải lương, vọng cổ rất hay nhưng lại ngại thể hiện vì sợ đám đông cho là “quê” quá. Điều đó đã làm cho niềm yêu thích của bạn trẻ giảm dần”. 

Tuy nhiên, vẫn có nhiều người yêu thích và giới mộ điệu cải lương trước giờ vẫn luôn có một thị trường riêng dành cho bộ môn nghệ thuật này. Ví dụ như những gameshow, cuộc thi tài năng dành cho các bạn trẻ yêu thích cải lương tham gia. NSƯT Hữu Quốc cũng đã nhận lời tham gia ngồi “ghế nóng” cùng với những người đồng nghiệp gạo cội trong làng vọng cổ như Đạo diễn Hoàng Nhật Nam, NSƯT Kim Tử Long , NSƯT Thoại Mỹ và MC Đại Nghĩa.

NSƯT Hữu Quốc: Lý do giới trẻ thời nay không theo cải lương là vì khán giả

Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dòng nhạc Đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, nhạc xưa cổ

Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918”, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới “bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách…nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…”

NSƯT Hữu Quốc: Lý do giới trẻ thời nay không theo cải lương là vì khán giả

Đa số các nhà nghiên cứu hiện nay đều thống nhất về việc giải thích 2 từ cải lương theo nghĩa: Cải là cải cách, lương là lương truyền. Có nghĩa là làm mới thể loại âm nhạc dân tộc để qua đây lương truyền tuồng tích, các vấn đề muốn gửi gắm đến khán giả, nhân dân và nhiều thế hệ hôm nay, mai sau.

Vì sao sân khấu cải lương xuống dốc ba thập kỷ qua?

Nghệ sĩ – soạn giả giỏi ngày càng ít, sàn diễn xuống cấp, nhiều loại hình giải trí trỗi dậy… khiến dòng cổ nhạc rơi vào bế tắc.

Đầu những năm 1990, sự bùng nổ của làn sóng băng video, phim nhựa và truyền hình khiến cải lương mất thế thượng phong. Sân khấu ca cổ không còn nhiều đất sống, các chủ đoàn hát tư nhân rút vốn đầu tư. Giữa thập niên 1990, sàn diễn dần thoái trào, khán giả đến rạp ít hơn vì chuộng xem băng video. Cải lương nguyên tuồng cũng bị “bức tử”, nhiều rạp chỉ lấy trích đoạn vở cũ hay nhất ra biểu diễn. Sân khấu rơi vào cảnh đìu hiu vì không còn cảnh khán giả rần rần xếp hàng đi xem cải lương. Đến đầu thế kỷ 21, nhiều loại hình giải trí nghe nhìn, game show, Internet phát triển mạnh mẽ khiến sân khấu truyền thống khốn đốn. NSND Lệ Thủy chia sẻ, vào thời hoàng kim, một suất nếu bán chỉ vài trăm vé nghệ sĩ đã chê. “Giờ chỉ mong mỗi suất có vài trăm khán giả đến xem là mừng lắm rồi”, bà kể.

NSND Bạch Tuyết diễn tɾíƈн đoạn “Tʜái нậυ Dương Vân Nga” trong chương trình ôn 100 năm cải lương cuối năm 2017

NSND – đạo diễn Ngọc Giàu, NSND Bạch Tuyết cho rằng cải lương hiện thiếu toàn diện những yếu tố từng làm nên thời vàng son như: soạn giả giỏi, thế hệ nghệ sĩ kế thừa xứng đáng, những ông bầu lành nghề và sàn diễn ổn định.

Những soạn giả có tiếng hiện nay chỉ đếm trên đầu ngón tay như Hoàng Song Việt, Lê Duy Hạnh, Triệu Quang Vinh, Triệu Trung Kiên… Trong Liên hoan cải lương toàn quốc tại Long An hồi tháng 9, NSƯT Lê Chức – Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật của liên hoan – nhận định các tác phẩm dự thi đa số đều phục dựng từ kịch bản cũ hoặc vay mượn từ kịch nói. Hàng loạt vở tuồng về đề tài lịch sử, dã sử, hoặc mang chủ đề gia đình, xã hội vốn ngày trước rất ăn khách, là “gà đẻ trứng vàng” cho nhiều sân khấu cũ, nay cứ tái diễn nhiều lần khiến cải lương bị bào mòn về nội dung, độ sáng tạo.

Sự thiếu hụt đội ngũ kế thừa thế hệ nghệ sĩ vàng cũng khiến bộ môn nghệ thuật này không còn gây ấn tượng với lớp khán giả cũ lẫn khán giả trẻ. Trên VnExpress, khán giả có nickname cangvt46 chia sẻ: “Cải lương xưa đi vào lòng người nhờ hai yếu tố: giọng ca hay và soạn giả giỏi. Những yếu tố mà cải lương ngày nay không có”. Còn khán giả Anh Tuấn Nguyễn Lê bày tỏ: “Nghệ sĩ bây giờ ca vẫn hay nhưng không có hồn”.

Ngày trước, hàng loạt nghệ sĩ cải lương, mỗi người là một vẻ riêng biệt, độc đáo về thanh lẫn sắc, in đậm dấu ấn trong lòng khán giả mộ điệu bằng tài năng ca diễn lẫn thần thái, phong cách như: Nghệ sĩ Ưu tú Thanh Nga, Thanh Sang, Minh Cảnh, Thanh Kim Huệ, Lệ Thủy, Minh Vương, Minh Phụng, Mỹ Châu, Vũ Linh, Tài Linh, Bạch Tuyết… Thế hệ này được lớp soạn giả lừng danh một thời như: Viễn Châu, Hà Triều – Hoa Phượng, Kiên Giang, Thu An, Yên Lang… “chắp cánh” bằng những vở tuồng đặc sắc, chạm sâu vào tâm hồn, cảm xúc của nhiều thế hệ khán giả như: Tuyệt tình ca, Nửa đời hương phấn, Cô gái đồ long, Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cướiLan và Điệp, Đường gươm Nguyên Bá

Khi thời của lớp trước đã lùi xa, lớp trẻ – vốn được bổ sung từ nhiều cuộc thi cải lương như Triển vọng Trần Hữu Trang, Tài năng trẻ cải lương toàn quốc, Chuông vàng vọng cổ… –  lại khó bám trụ với nghề và khẳng định chỗ đứng. Bởi họ thiếu những yếu tố cần và đủ để tạo bản sắc riêng: thiếu sàn diễn, thiếu tác phẩm hay, ít cơ hội để rèn chuyên môn và thiếu một lớp khán giả trung thành – những người vốn không đủ kiên nhẫn trước một loại hình trình diễn thiếu sự đầu tư về nhiều mặt.

Liveshow “Xử άи Phi Giao” của Ngọc Huyền cuối năm 2017 là một trong số ít những đêm diễn cải lương sốt vé vài năm trở lại đây.

Câu chuyện về đào tạo là chủ đề thường trực trong các buổi hội thảo chuyên đề vực dậy cải lương. Các lò đào tạo diễn viên cải lương một thời như Nhà hát Trần Hữu Trang, Đồng Ấu Bạch Long – nơi khai sinh ra các tên tuổi trẻ như Quế Trân, Tâm Tâm, Vũ Luân, Tú Sương – không còn hoạt động như trước. Đầu vào ở các trường, khoa chuyên đào tạo nghệ sĩ cải lương ở TP HCM cũng ít ỏi, thiếu các gương mặt tiềm năng.

Ngoài ra, theo NSND Huỳnh Nga – đạo diễn vở Đời cô Lựu, việc cải lương xuống dốc còn nằm ở khâu chọn lựa tác phẩm của các đoàn. Ông cho rằng những năm gần đây, các đoàn cải lương thường chọn bừa kịch bản, tập hợp diễn viên làm vở mà không xác định thời điểm, xu hướng và chiến lược lâu dài.

Điều kiện thiếu thốn, hạn chế của các điểm diễn hiện tại cũng là trở ngại lớn. NSƯT Hoa Hạ cho biết bà từng đi nhiều nước, nhận thấy sàn diễn ở nhiều nơi đã phát triển “đến nóc nhà hát”, sân khấu xoay chuyển, biến mất trong tích tắc trước sự hoa mắt, choáng ngợp của khán giả. Đạo diễn nhận định mặt bằng chung sân khấu cải lương hiện vẫn giữ mức như thập niên 1980, đạo cụ vẫn sản xuất thủ công, cơ sở còn thiếu an toàn… Chẳng hạn sân khấu Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang (quận 1) – tiền thân là rạp Hưng Đạo, nơi từng được xem là “thánh địa” của các đoàn cải lương Sài Gòn xưa. Sau khi được xây mới với kinh phí 132 tỷ đồng, sân khấu nơi đây lại không sáng đèn thường xuyên vì hạn chế nhiều mặt về yếu tố kỹ thuật. Sinh thời, cố nghệ sĩ Út Bạch Lan buồn bã khi thấy rạp Hưng Đạo sửa mới không đáp ứng được nguyện vọng của giới nghệ sĩ, khán giả mộ điệu trong việc vực dậy cổ nhạc. Theo nhiều đạo diễn, hiện chỉ có sân khấu Bến Thành (quận 1) mới đáp ứng hầu hết điều kiện cho các tác phẩm cải lương, song giá thuê còn khá đắt.

Nhà hát Trần Hữu Trang - đơn vị công lập duy nhất về cải lương tại TP HCM - chỉ sáng đèn vài đêm mỗi tuần.Nhà hát Trần Hữu Trang – đơn vị công lập duy nhất về cải lương tại TP HCM – cɦỉ sáng đèn vài đêm mỗi tuần. Ảnh: Trần Quỳnh.

Trong nỗ lực khôi phục cải lương, nhiều đoàn hát tư nhân đề ra nhiều cách thức thu hút khán giả. Sân khấu Lê Hoàng ở Trung tâm Văn hóa quận Bình Thạnh từng dàn dựng lại các vở cải lương kinh điển của tuồng cổ như Chung Vô Diệm, Ngọc Kỳ Lân, Xử bá đao Từ Hải Thọ…, thu hút nhiều tên tuổi hợp tác như NSND Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Mai, Trường Sơn, Kim Tử Long… Họ kêu gọi các nghệ sĩ quảng bá vở diễn trên mạng xã hội, nhờ các diễn đàn cải lương thu hút khán giả thích xem vở nguyên tuồng đến thưởng thức. Sân khấu Thầy Năm Tú của nghệ sĩ Nguyễn Quang (tại Nhà văn hóa Lao động quận Bình Tân) từng diễn miễn phí trong tuồng đầu tiên để đo lường mức độ yêu thích của công chúng. Tuy nhiên, các điểm diễn này đều gặp khó khăn khi tiếp cận các khán giả vãng lai.

Theo bước chân của kịch nói, nhiều đơn vị nỗ lực xã hội hóa cải lương nhưng chưa thành công. Các câu lạc bộ như Cải lương Tinh Hoa, Hương Xưa, Sân khấu thể nghiệm… ra đời nhưng sớm đi vào quên lãng. Năm 2008, chương trình Sân khấu vàng của NSND Lệ Thủy – NSƯT Minh Vương được xây dựng với mục địch khôi phục các vở kinh điển và quyên góp quỹ thiện nguyện. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí từ các mạnh thường quân, chương trình này phải kết thúc sau vài năm khởi xướng. Nhóm xã hội hóa của nghệ sĩ Vũ Luân cũng rơi vào cảnh đìu hiu, từ rạp Thủ Đô chuyển sang sân khấu trong công viên Lê Thị Riêng, dù trước đó đầu tư hàng tỷ đồng. Năm 2015, ông bầu Huỳnh Anh Tuấn của sân khấu Idecaf xây dựng một sàn diễn cải lương định kỳ ở Nhà hát Nón Lá, Cung văn hóa Lao động (quận 1) nhưng bỏ cuộc vì không có nghệ sĩ chung lưng đấu cật.

Minh Vương (trái) và Lệ Thủy trong hậu trường Sân khấu vàng - chương trình nỗ lực vực dậy cải lương một thời.Minh Vương (ɫrái) và Lệ Thủy trong нậυ trường Sân khấu vàng – chương trình kỳ vọng khôi phục đỉnh cao cải lương một thời.

Những năm gần đây, NSƯT Kim Tử Long là một trong những nghệ sĩ đi theo mô hình đổi mới. Ban đầu, họ kêu gọi các nhà tài trợ ủng hộ. Sau đó, khi có được nguồn thu, nghệ sĩ đóng góp cát-xê của họ, và chia ra từng mảng để phụ trách như: cảnh trí, phục trang, dàn nhạc… cho một vở diễn. Kim Tử Long kể anh nhận được chia sẻ của nhiều nghệ sĩ tâm huyết để chung tay với mong muốn hồi sinh cải lương. Ấp ủ dự định khôi phục Sân khấu vàng, nghệ sĩ Minh Vương cho rằng trên chặng đường đi tìm ánh hào quang xưa, cải lương rất cần sự quan tâm của các nhà quản lý văn hóa, sự đồng lòng giữa các nghệ sĩ nhiều thế hệ.