NSƯT Hùng Minh: Đời cầm ca là những khúc quanh

0
161

Thuở đầu theo các đoàn hát, ông gặp nhiều trắc trở. Đến khi tỏa sáng, ông cũng trải nghiệm nhiều đắng cay với nghiệp làm bầu. Nhưng chưa bao giờ ông hối hận.

Những khúc quanh nghiệt ngã

Cái tên Hùng Minh bắt đầu rực sáng trên bầu trời cải lương vào cuối thập niên 1950. Đêm nhận giải Thanh Tâm năm 1959 với vai Hoa Lộc Trung trong Nó là con tôi, ông rơi nước mắt vì không tin đó là sự thật. Khán giả thời đó hầu như không ai không thích vai này.

Giải thưởng đưa sự nghiệp của ông bước sang trang mới, trở thành kép chính được săn đón hàng đầu. Trước đó Hùng Minh cũng đã lọt vào mắt xanh của nhiều bầu gánh. Ngay khi còn hoạt động ở đoàn Hữu Tâm, ông đã được đoàn Song Kiều Thúy Nga mời về với giao kèo một năm lãnh 160.000 đồng – con số khá lớn thời bấy giờ, mua được cả xe hơi.

Đoàn Thanh Hương – Văn Chung cũng tranh giành ông với mức giao kèo 300.000 đồng. Về đây, ông đóng chính trong loạt vở tuồng ăn khách như: Dưới giàn hoa thiên lý, Sở Bá Vương Hạng Võ… Suất diễn nào cũng đông nghẹt khán giả.

 Nghệ sĩ Hùng Minh và nghệ sĩ Phượng Loan trong vở Bóng tối và ánh sángNghệ sĩ Hùng Minh và nghệ sĩ Phượng Loan trong vở Bóng tối và ánh sáng

Không có vinh quang nào không có nước mắt. Với nghệ sĩ Hùng Minh, đây là cú lội ngược dòng ngoạn mục, bởi ông từng có thời “câu hát bẻ đôi” cũng không biết. Ông nhớ lại cậu bé Minh năm 10 tuổi, rời quê lên Sài Gòn kiếm sống, sáng mang đá ra chợ cho mẹ ướp cá, xong lại lén bà đi tìm kế sinh nhai, nhưng không việc nào thành. Ngày cuối đoàn Thái Bình diễn ở rạp Đại Thế Giới, cậu lấy hết can đảm xin ông bầu được đi theo, nhưng không phải vì mê, mà cốt chỉ để tìm cái ăn, giúp mẹ đỡ gánh nặng trong cảnh thiếu thốn bần cùng. Hơn một tháng sau, đoàn tan rã, về nằm tại đình Tân An (khu Đa Kao hiện tại). Mỗi ngày, ông phải đi mót vỏ bánh bao, bánh mì để no bụng. “Tôi không dám về nhà, vì ngày đi má bảo nếu đi đừng về”, ông nhớ lại.

Đói quá, ông và một số anh em trong đoàn tìm đến đoàn Ánh Sáng ở Gò Vấp xin việc. Năm người đi, chỉ ông bị loại, lủi thủi ra về. Con đường vắng vẻ với tiếng ếch nhái kêu inh ỏi lấn át tiếng khóc của chàng trai 14 tuổi. Ông được ông bầu Ba Tẹt nhận vào đoàn, với lời hứa hẹn về những vai diễn, nhưng ông lại trốn vì sợ, bởi đâu biết hát.

Ông tìm đến gánh khác, gặp soạn giả Nam Sơn, được vợ chồng ông nhận làm con nuôi, thương như con ruột. Ông được giao vai quân sĩ, rồi đến những vai có thoại. Lần diễn vở Thu hồ diệp lạc, ông tập thuộc lòng, nhưng khi bước lên sân khấu, ông quên sạch, thậm chí còn ca một đường, đờn đi một nẻo. Thấy bản thân trở thành gánh nặng, ông rời đoàn.

Ông nhận ra rằng nếu muốn cuộc đời khác đi, không thể chỉ mãi làm việc vặt hoặc trốn chạy như trước. Về đoàn Đuốc Việt (sau là đoàn Tiếng Chuông), nhiều đêm khi vãn hát, ông chạy mua rượu cho thầy đờn với mong ước được tập ca. Quãng đường tối mịt, lại phải băng ngang nghĩa địa, nhưng nghĩ đến viễn cảnh được hát thì mọi thứ lo lắng tan biến. Lúc nào ông cũng bị quở trách: “Bài bản, nhịp phách chẳng biết gì ráo trọi mà đòi ca”. Mỗi lần gánh hát đóng gần chợ, ông tìm mua bài ca về tập thêm.

Đêm nào, khi đứng ở cánh gà chờ ra sân khấu, ông cũng đều lẩm nhẩm theo đào kép chính, có khi hát to quá nên bị mắng. Có hôm, ông bị nghệ sĩ Trường Xuân vào ký đầu bảo: “Mày ra hát luôn đi”. Dần dà ông bắt nhịp được với đờn, hát ngọt hơn. “Tài năng, sự khổ luyện quan trọng, nhưng vẫn cần một chút may mắn mới nên chuyện”, ông nói.

Lần nọ, đoàn đi hát ở Tam Kỳ, nghệ sĩ chuyên đóng vai lão ở lại theo lời chiêu mộ của ông chủ hội chợ. Chủ đoàn hát chỉ định ông thay thế. Ông dùng dằng vì không thích, nhưng cuối cùng vẫn nhận lời. Vì nếu không, gánh hát buộc phải dừng, và nhiều người sẽ đói.

Chân dung nghệ sĩ Hùng Minh thời trẻChân dung nghệ sĩ Hùng Minh thời trẻ

Nhờ những lần đứng hát thầm trong cánh gà, ông thuộc hết những vai này. Đêm đầu tiên, ông đóng vai quan triều đình trong tuồng Ngai vàng hay ghế gỗ, khán giả vỗ tay rần rần. Đứa trẻ ngỡ chẳng có tương lai chính thức trở thành nghệ sĩ. Nghệ danh Hoàng Bé của ông được nghệ sĩ Trường Xuân đổi thành Hùng Minh. Lần nọ, kép chính mệt mỏi, nhường lại một đêm diễn, trùng với dịp ông bầu đoàn Hữu Tâm ở Sài Gòn tìm về các đoàn tỉnh để chiêu mộ nghệ sĩ. Hùng Minh được chọn, ký giao kèo một năm 40.000 đồng – con số không tưởng với chàng thanh niên từng không có một đồng trả tiền đi xe ngựa.

Ông hát rất nhiều dạng vai trong các tuồng: Nắm cơm chan máu, Làm người mặt thú… Đoàn hát không có đạo diễn, nên nghệ sĩ thường tự trao đổi, luyện tập với nhau. “Lúc này, tôi mới thực sự biết nghệ thuật là gì, đam mê cũng dần lớn lên”, ông tâm sự.

Gãy gánh nghiệp làm bầu và con đường trở thành kép độc lừng lẫy

Càng bước lên cao, ông càng cẩn trọng, biết mình biết ta. “Thường kép chính hát rất nhiều, nhưng tôi không có làn hơi hay như nhiều đàn anh, đồng nghiệp khác. Vì thế, tôi tập trung diễn xuất. Anh Tấn Tài thuở đó hay nói chưa từng thấy trường hợp nào lạ lùng như tôi”, ông tâm sự.
Nghệ sĩ Hùng Minh trong vai Mã TắcNghệ sĩ Hùng Minh trong vai Mã Tắc

Sau đó, ông cùng vợ – nghệ sĩ Thanh Hương – lập đoàn hát, nhưng giấc mộng không thành. Có lúc, ông phải đong gạo từng lon, ký hợp đồng nhưng không có tiền trả cho nghệ sĩ, vịn chân xin đào, kép thông cảm vì không có tiền trả lương. Thảm nhất, cô đào trong đoàn xin tiền đóng lại chiếc rương đã mục nát, ông cũng không có. Ông nuốt nước mắt vào trong khi nhìn đoàn khác mời nghệ sĩ Thanh Sang về với giá 250.000 đồng, trong khi cả đoàn hát của ông chỉ vận hành với tổng vốn 300.000 đồng.

Nghệ sĩ Thanh Hương qua đời, sự nghiệp làm bầu chấm dứt trong những nỗi buồn chất chồng. Đoàn dạt về một ngôi đình ở quận 8, mỗi người lấy một món, tản đi tứ xứ. Ông nói, đó là những ngày nước mắt chan cơm, nhưng không tiếc hay hối hận. Đoàn Thanh Minh – Thanh Nga là nơi sự nghiệp nghệ sĩ Hùng Minh bừng sáng trở lại, nhưng theo hướng khác: chuyên trị kép độc.

“Ban đầu được giao vai tôi cũng phân vân. Khán giả quen hình ảnh tôi với vai kép mùi. Nhưng tự bó buộc bản thân thì sống không trọn vẹn với nghề, với khán giả. Hơn nữa, tôi xuất thân từ đoàn hát nhỏ, cũng từng không được chọn lựa quá nhiều, cứ đưa vai thì diễn”, ông nói.

Vai Mã Tắc trong Tiếng trống Mê Linh gây ấn tượng mạnh. Ông phác họa vị tướng hữu dũng vô mưu bằng giọng nói gầm gừ cùng điệu bộ, dáng vẻ mạnh mẽ. Không ít khán giả bỡ ngỡ, cũng có người bất ngờ vì sự đa dạng của ông trên sân khấu. Ông bảo sân khấu cũng là đời. Vì thế, vai phản diện cũng có nhiều thể loại, phải nghiên cứu kỹ mới thể hiện đúng. Chẳng hạn, vai Nguyễn Thế Nam trong Bóng tối và ánh sáng là một kẻ thực dụng, sẵn sàng hy sinh con cái để đạt được mục đích mong muốn. Với nhân vật này, ông tập trung thể hiện tâm lý qua đôi mắt, phát âm, nhằm nhấn mạnh cái ác đến từ bên trong.

Khung ảnh tổng hợp những vai diễn được ông đặt trong nhàKhung ảnh tổng hợp những vai diễn được ông đặt trong nhà

Đinh Điền trong Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyễn Nhạc trong Tâm sự Ngọc Hân lại là cái ác của kẻ phản quốc cầu vinh nên tập trung vào giọng điệu, đôi mắt. Mỗi màu sắc đều góp phần vào thương hiệu của kép độc Hùng Minh. Tất cả ông đều góp nhặt từ cuộc sống, học hỏi từ những đàn anh đi trước. Sau này, nhiều vở có vai kép độc, cái tên Hùng Minh luôn được nhắc đến đầu tiên.

Nam nghệ sĩ nhớ lại: “Có lần tôi gặp một vị khán giả, cậu ấy bảo xem vở Tiếng trống Mê Linh năm 10 tuổi cứ đến đoạn Mã Tắc nói chuyện nghe sợ đến run người. Cậu ấy rất ghét nhân vật này, cứ xem là muốn tắt ti vi. Tôi cũng từng bị người ta chỉ trích là quan tham, ăn cắp vật quý của nước Việt. Không ít lần tôi nghe khán giả xì xầm, chửi bới dưới sân khấu. Nhưng đó là niềm vui, khi nghệ sĩ đã dẫn dắt khán giả vào trong câu chuyện, từ đó họ biết đúng sai, yêu ghét giữa cái thiện và cái ác”.

Từ năm 1991 trở đi, ông ít hoạt động vì sức khỏe, và tình hình cải lương không còn hút khán giả như thời vàng son. Dẫu vậy, ông vẫn đau đáu về sân khấu cải lương ngày càng xuống dốc. Những buồn vui của một thời long đong theo các đoàn hát thường được ông kể lại cho con cháu nghe. Đó cũng là cách để nguôi nỗi nhớ nghề, lẫn những mong muốn nhưng lực bất tòng tâm.

Tuổi cao nhưng ông vẫn miệt mài đóng phim. Có thời gian ông cũng đá chéo sân sang kịch nghệ. Ở lĩnh vực nào, ông cũng miệt mài, chăm chỉ, mẫu mực làm gương cho hậu bối. Ngoài đời, ông hiền, ít nói nhưng hễ ai khuyên bỏ nghề, nghỉ hưu, ông giận ngay. Bởi ông muốn những ngày cuối đời vẫn còn được gặp khán giả, cho vẹn một kiếp cầm ca. Nhìn lại chặng đường đã qua với nhiều khúc quanh, vinh quang nhiều, nước mắt không ít, nhưng ông nhiều lần bảo mình may mắn, bởi luôn còn được khán giả yêu thương, cho đến tận giờ phút này.

NSND Thanh Hải: Đời thầy đờn như khúc nhạc nỉ non

NSND Thanh Hải cười khà khà khi nhắc về những ngày tháng ông chu du khắp bốn phương trời, trình diễn cho bạn bè quốc tế thưởng thức. Cái điệu cười đôn hậu, nghe trong đó có sự lạc quan, yêu đời của một thầy đờn trải nghề, tận hiến.

Khúc nhạc đời trầm bổng

Cuộc trò chuyện với NSND Thanh Hải (sinh năm 1957) – thầy đờn nức tiếng của nghệ thuật cải lương – bắt đầu từ việc ông trải lòng về hai chữ “hào quang” của người nghệ sĩ. Ông nói trong nghệ thuật, dù nổi tiếng hàng đầu hay không được nhiều người biết đến, thì ít hay nhiều, mỗi nghệ sĩ đều có cho mình vùng hào quang riêng. Điều quan trọng, là có những người tài sinh ra hợp thời, lại gặp thêm may mắn, có người hụt mất đôi ba phần vì ngoại cảnh. Trong những yếu tố vừa nêu, NSND Thanh Hải nói bản thân ông gặp may phần nhiều, ông bảo không phải mình khiêm tốn mới nói thế, mà vì ông may mắn thật.

NSND Thanh Hải kể từ ngày đầu đến với âm nhạc, ông đã được gặp những thầy đờn giỏi “thần sầu” của nghệ thuật cải lương ngày đó. Ông nhớ thời còn bé, chỉ mới sáu, bảy tuổi hay ngồi nghe đài phát thanh, hễ thấy ai ca cải lương là tự khắc giai điệu, lời ca vang vọng bên tai rồi thấm vào đầu, nhẹ nhàng như không.

NSND Thanh Hải trình diễn tại chương trình Dấu ấn huyền thoạiNSND Thanh Hải trình diễn tại chương trình Dấu ấn huyền thoại

Ngày đó ông ở Hải Phòng xa xôi nên không có cơ hội được tận mắt chứng kiến những thầy đờn miền Nam chơi nhạc. Cho đến một ngày, chị gái ông là nghệ sĩ Kim Hà, làm việc ở Đài Phát thanh Giải Phóng, nói rằng có “mấy thầy từ trong Nam ra, đàn hay lắm” nên gia đình vội sắp xếp, gửi ông theo học lớp của thầy Út Du – một thầy đờn có tiếng thời bấy giờ.
Sau sự dìu dắt của người thầy đầu tiên, NSND Thanh Hải được vợ chồng NSƯT Thanh Hùng, nghệ sĩ Ngọc Hoa đưa đường, chỉ lối. “Lúc đó, tôi nhớ mình khoảng 11, 12 tuổi. Anh Thanh Hùng biết được năng khiếu của tôi. Anh mở những băng nhạc của mấy thầy đàn trong miền Nam cho tôi xem. Tôi nghe chú Văn Vĩ, Văn Giỏi, nghe bác Năm Cơ, bác Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu… Tôi nghe suốt hai, ba tháng rồi âm nhạc cứ thế ăn sâu vào máu”, NSND Thanh Hải
chia sẻ.

Thời của NSND Thanh Hải là thời của những đứa trẻ đùm túm theo gia đình mỗi khi sơ tán. Chúng chẳng biết làm gì ở vùng đất mới, nên mỗi đứa tìm một trò giải khuây. Trò của cậu nhóc mê âm nhạc Thanh Hải là tìm bụi trúc, chặt một đoạn trúc đẹp để đục làm sáo thổi, chơi chán lại ra cây đu đủ lấy một cành lá, chặt gọn rồi khoét lỗ thổi chơi. Năm tháng đó chẳng ai nghĩ rồi sau này, đứa trẻ vô tư, hồn nhiên ấy trở thành thầy đờn nức tiếng.

Sau thời gian học hỏi từ một số thầy giỏi, NSND Thanh Hải bước lên những sân khấu đầu tiên. Ông bảo mình thuộc dạng liều lĩnh, vì với những ai biết lượng sức mình, không người nào đi trình diễn, thu thanh chuyên nghiệp khi chỉ mới tập tành như ông. Vậy mà chàng trai 17 tuổi đã dễ dàng chinh phục được người nghe khi mang đến làn gió mới, khiến khán giả xôn xao không biết ai mà dù là người miền Bắc nhưng lại có ngón đờn nức nở, nghe ra điệu của người miền Nam.

Rồi thời gian dần qua, NSND Thanh Hải miệt mài học hỏi thêm các loại nhạc cụ để vừa thỏa tính tò mò, ham học, vừa thỏa đam mê âm nhạc đang ngày một lớn. “Hồi đó, ba dạy tôi đàn tranh. Trước khi học đàn tranh, tôi đã biết chơi violin. Sau này, tôi học thêm guitar, đàn bầu, đàn kìm…

Người khác chơi được thì tôi nghĩ mình cũng có thể chơi được, rồi tự học là chính. Tôi hay bảo mình may mắn, không phải tôi khiêm tốn mà có nhiều lý do. Tôi thấy nhiều người đam mê, theo đuổi nghề, nhưng điều kiện không cho phép. Còn tôi, mọi thứ có phần thuận lợi hơn đôi chút. Tôi có cơ hội ngồi chơi đờn với những thầy đờn giỏi bậc nhất thời bấy giờ, và nhiều cơ may khác xảy đến một cách tự nhiên. Đương nhiên, tôi có sự mong cầu, có khả năng, nhưng tôi vẫn thấy mình may mắn lắm!”, ông chia sẻ.

Mang tiếng nhạc vượt trùng dương

Theo lời của NSND Thanh Hải, từ năm 1976 đến năm 1978 là thời kỳ cực thịnh của sân khấu cải lương, và nghiệp thầy đờn của ông cũng vào thời đỉnh cao, được săn đón. Nam nghệ sĩ bảo thời kỳ này, vô tuyến truyền hình không nhiều chương trình, phim đen – trắng đến 21 giờ là hết, chỉ có các sân khấu sáng đèn mỗi đêm mà không đêm nào không có khách.

Hình ảnh NSND Thanh Hải thời còn trẻ
Hình ảnh NSND Thanh Hải thời còn trẻ

“Ngoài TP.HCM, các tỉnh đều có một, hai đoàn cải lương, hoặc ít nhất cũng một đoàn phục vụ bà con. Đêm nào đoàn cũng diễn, chỉ nghỉ tối thứ Hai để chuyển bến. Thời đó, tôi đàn ở Đoàn văn công TP.HCM, có chị Lệ Thủy, anh Thanh Tuấn, chị Mỹ Châu… hát mỗi tối. Ngoài đàn tại đây, tôi thu cho đài phát thanh, hãng đĩa. Tiền lương giai đoạn này không cao, nhưng so với đời sống thời bấy giờ, cuộc sống chúng tôi rất ổn định”, NSND Thanh Hải cho biết.

Vào những năm 1980, NSND Thanh Hải và NSND Văn Giỏi trở thành cặp nghệ sĩ được yêu thích khắp các miền vì nhiều bài hòa tấu đỉnh cao như Vọng kim lang, Phi vân điệp khúc, Đoản khúc lam giang… Thời kỳ này, NSND Thanh Hải cũng gây dấu ấn ở vai trò nhạc sĩ.

“Bắt đầu từ năm 1985, tôi viết nhạc nền cho các đoàn tỉnh. Lúc đó, các đoàn dựng một tuồng cải lương có thể hát hai đến ba tháng, nhưng đoàn nào cũng muốn dựng thêm nhiều tuồng mới để thu hút khán giả. Nhiều đoàn mời tôi đến để viết nhạc. Tôi ở đoàn này một thời gian, viết xong lại chạy sang đoàn khác. Cho đến nay, tại những kỳ thi Liên hoan Sân khấu Cải lương chuyên nghiệp toàn quốc, có năm tôi viết nhạc cho cả chục đoàn biểu diễn”, ông nói thêm.

NSND Thanh Hải cần mẫn làm việc không chỉ với nghệ thuật cải lương, mà ông còn tìm tòi, mang cải lương hay nói rộng hơn là âm nhạc truyền thống kết hợp với tân nhạc, tạo ra những sáng tạo mới. Việc tự học của NSND Thanh Hải là bài học lớn mà nghệ sĩ thế hệ sau có thể lấy ông làm gương về chuyện muốn tài giỏi, trước nhất phải đi từ nỗ lực của bản thân. NSND Thanh Hải học “lỏm” cách sáng tác của giáo sư – tiến sĩ Quang Hải, phó giáo sư – nhạc sĩ Ca Lê Thuần, nghệ sĩ Thanh Tùng… Ông cứ nhìn tổng phổ rồi mon men làm theo, đến khi biết được đường đi nước bước lại học thêm để mang cái tinh túy của nghệ thuật cải lương thử nghiệm cùng boléro, gắn với tuồng, chèo hay ca Huế… Với ông, cải lương có thể biến hóa nhiều hơn nếu người nghệ sĩ cởi mở, ham tìm tòi, sáng tạo để mang đến “món ăn” tinh thần mới lạ cho khán giả.

Trong sự nghiệp hơn 45 năm của NSND Thanh Hải, có hai thời điểm ông hân hoan với nghề nhất, là lúc sân khấu đang trong thời kỳ hoàng kim, và khi tham gia trong ê-kíp thực hiện vở diễn xiếc nghệ thuật À ố show. Ông nói thời hoàng kim là lúc bản thân và anh em đồng nghiệp bận rộn, cùng lao động hăng say nên nhớ mãi. Còn với À ố show từ năm 2013 cho đến trước thời điểm dịch COVID-19 tác động, đây là lúc ông thấy được giá trị của bản thân, và vui mừng vì âm nhạc truyền thống đã vượt trùng dương, chinh phục được khán giả quốc tế.

À ố show đã trở thành chương trình nghệ thuật có thương hiệu với thế giới. Chẳng phải tôi tham gia nên khen, mà chính những người thực hiện đã có cách phối kết hợp nhiều hình thức, tạo nên một sản phẩm nghệ thuật vừa mang giá trị truyền thống, vừa đậm hơi thở hiện đại. Khán giả tại các quốc gia khác, họ tán thưởng vô cùng”, NSND Thanh Hải vui mừng kể lại.

Xen lẫn trong sự hồ hởi về chuyện âm nhạc truyền thống đã vượt trùng dương, NSND Thanh Hải trăn trở về chuyện nối nghề, truyền nghiệp. Ông bảo câu chuyện này chẳng còn mới để luận bàn xôn xao, nhưng ngẫm mà buồn, vì một mai, khi thế hệ gạo cội chẳng còn mà tìm cũng không mấy ai ở lớp kế thừa thì chắc kho tàng quý giá sẽ mai một. Ông bảo 30 năm qua, khi sân khấu cải lương khó khăn, thì cũng chừng ấy thời gian, ông có nhận dạy vài học trò nhưng rồi cũng vơi bớt. Bây giờ, học trò nào đến ông cũng nhận dạy, nhưng học xong rồi liệu trò đi đâu, về đâu mới là điều quan trọng.

“Mảnh đất nghệ thuật truyền thống màu mỡ, tôi nghĩ trồng cây nào trái cũng sai, nhưng chúng ta ít ươm trồng. Phần là do quá ít người chuộng, phần do công người chăm chưa biết cách nên rồi đến người tâm huyết truyền nghề nhất cũng thấy mỏi mòn, hỏi đến khi nào mới thấy được vườn xanh?”, NSND Thanh Hải bộc bạch.

Nguồn: phunuonline